duhoctrungquoc

NCKH

(Cập nhật ngày: 21/10/2019)
Cuốn Kỷ yếu của Hội nghị tổng kết hoạt động Nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng viên giai đoạn 2015 - 2019 gồm các bài viết, báo cáo tóm tắt các đề tài đã nghiệm thu trong năm học 2018 - 2019, các bài viết về các vấn đề đang được cán bộ giảng viên nghiên cứu. Dù số lượng và chất lượng các bài viết còn những hạn chế nhất định, song cuốn Kỷ yếu là sản phẩm ghi nhận những nỗ lực - đóng góp của cán bộ giảng viên trường Đại học Phương Đông. Mong rằng đây là động lực để cán bộ giảng viên trong trường phát huy tối đa năng lực nghiên cứu khoa học trong thời gian tới...

TÓM TẮT KỶ YẾU

PHẦN 1: KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ                                

TÍNH TOÁN VÀ VIỄN TẢI LƯỢNG TỬ

PGS.TS. Phan Hữu Huân

Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Các cuộc thảo luận, tranh luận về nghịch lý của vật lý lượng tử như có bao nhiêu chỗ một electron có thể tồn tại, cùng một lúc, mới nghe có vẻ viển vông, vô bổ. Tuy nhiên, các cuộc tranh luận này của các nhà khoa học không phải để chiêm nghiệm, rỗi hơi. Một ngày nào đó họ có thể có được ứng dụng vào thực tế. Có một số nhà vật lý lượng tử nói một cách hài hước rằng, biết đâu, một ngày nào đó, sự giàu có của một quốc gia có thể phụ thuộc vào những chi tiết tinh tế của con meo Schrodinger. Vào lúc đó, các máy tính của chúng ta sẽ tính toán trong các vũ trụ song song. Gần như tất cả các cơ sở hạ tầng máy tính của chúng ta ngày nay dựa trên các Tranzito (bóng bán dẫn) Silic, định luật Moore, phát biểu rằng năng lực máy tính nhân đôi – sau mỗi mười tám tháng, hoàn toàn khả thi vì chúng ta có thể cấy ghép các tranzito ngày càng nhỏ hơn vào các chip silic thông qua chùm tia bức xạ cực tim. Mặc dù định luật Moore đã cách mạng hóa thế giới công nghệ, nó không thể tiếp tục mãi. Các chip Pentium tiên tiến nhất có một lớp mà kích thước cỡ chỉ 20 nguyên tử. Theo dự đoán, trong vòng 15 tới 20 năm nữa, các nhà khoa học có thể tính toán trên các lớp mà kích thước khoảng 5 nguyên tử. Tại các khoảng cách nhỏ sẽ từ bỏ cơ học Newton và chấp nhận cơ học lượng tử, mà ở đó nguyên lý bất định Heisenberg ngự trị. Kết quả là chúng ta không thể biết chính xác electron ở nơi nào. Điều này có nghĩa là các hiện tượng đoản mạch sẽ diễn ra khi các electron trôi dạt ra ngoài các lớp cách điện và các chất bán dẫn thay vì ở trong chip.

Dựa trên các nghiên cứu về thuyết cơ học lượng tử đã có một số nhà vật lý lượng tử đưa ra, khả năng tính toán và viễn tải để thay cho tính toán và viễn tải hiện nay dựa trên cơ học Newton và điện tử. Bài viết sẽ trình bày hai nội dung:

  • Tính toán lượng tử.
  • Viễn tải lượng tử.

TỐI ƯU HÓA BAO PHỦ DIỆN TÍCH SỬ DỤNG CÁC CẢM BIẾN KHÁC KIỂU TRONG MẠNG CẢM BIẾN KHÔNG DÂY CÓ XEM XÉT ĐẾN YẾU TỐ CHƯỚNG NGẠI VẬT

ThS. Nguyễn Thị Hạnh

Mã số:  T18-0100-20

Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Đề tài giải quyết vấn đề bao phủ diện tích trong mạng WSNs. Cụ thể, với vấn đề bao phủ diện tích đề tài quan tâm nghiên cứu bài toán cực đại diện tích bao phủ với các cảm biến có độ phủ khác nhau trong trường hợp có chướng ngại vật trong mạng WSNs. Chi tiết của từng đóng góp trong đề tài được thể hiện như sau:

Tác giả đề xuất cải tiến bài toán cực đại diện tích bao phủ với các cảm biến có độ phủ khác nhau có xem xét đến chướng ngại vật cho phù hợp với thực tế , đề xuất hai giải thuật MGA và IPSO để giải quyết bài toán bao gồm:  khởi tạo heuristic, đề xuất hàm thích nghi (OSlap) và cải tiến thuật toán lực đẩy ảo (MVFA), đề xuất cách giảm dần trọng số quán tính để cải thiện tốc độ hội tụ trong IPSO. Hơn thế nữa, tác giả đề xuất ba chiến lược tìm cá thể đầu cụm trong IPSO. Các phương pháp đề xuất đã được thử nghiệm trên 23 bộ dữ liệu với các kịch bản khác nhau được xây dựng cho từng mục đích sử dụng khác nhau. Qua các thí nghiệm này, tác giả đã rút ra một số kết luận có ý nghĩa liên quan đến việc lựa chọn tham số phù hợp cho từng thuật toán đề xuất, ảnh hưởng của khởi tạo heuristic, ảnh hưởng của chiến lược lựa chọn cá thể đầu cụm, ảnh hưởng của MVFA lên các thuật toán đề xuất (IPSO và MGA).

Kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng các đặc tính như vị trí của chướng ngại vật, tổng diện tích của chướng ngại vật, số lượng các chướng ngại vật, độ bao phủ của cảm biến và bán kính cảm biến ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất của các thuật toán được đề xuất. Trong hầu hết các kịch bản thử nghiệm, IPSO hoạt động tốt hơn ICS, CFPA và MGA, đặc biệt là khi xử lý các bộ dữ liệu có số lượng cảm biến rất lớn. Mặt khác, việc đề xuất chiến lược tìm cá thể đầu cụm trong IPSO cũng cải thiện chất lượng lời giải nhờ cách sử dụng kinh nghiệm của từng cá thể thay vì chỉ xem xét cá thể tốt nhất, do đó tránh hội tụ sớm. Ngoài ra, MGA nổi bật lên khi thực nghiệm trên các bộ dữ liệu có số lượng lớn các chướng ngại vật, vì trong MGA có toán tử đột biến sẽ giúp thoát khỏi vùng vi phạm (vùng chứa chướng ngại vật).


TÌM HIỂU MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA DÃY GIẢ NGẪU NHIÊN

TS. Nguyễn Thị Thu Huyền

Mã số: T18-0100-21

Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Trong nhiều ứng dụng cả trong các lĩnh vực thực tế lẫn trong kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật tính toán, người ta luôn cần đến các dãy số ngẫu nhiên.

Chẳng hạn các dãy số ngẫu nhiên được sử dụng trong các phép chọn mẫu ngẫu nhiên trong thống kê hoặc dùng làm các giá trị xuất phát để thực hiện các chương trình tính toán phức tạp. Đặc biệt trong bảo vệ thông tin nói chung và trong mật mã nói riêng thì chỉ số ngẫu nhiên của các dãy số ngẫu nhiên hoặc thậm chí của số được sinh ra tức thì một cách ngẫu nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an toàn cho một bộ mật mã.

Để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu thường cần đến các dãy số ngẫu nhiên lý tưởng. Tuy nhiên, thực tế thì không thể tạo được các dãy số ngẫu nhiên như vậy mà có chăng chỉ là các dãy số ngẫu nhiên  tựa như lý tưởng. Tức là các dãy số ngẫu nhiên  được sản sinh từ một dãy ngẫu nhiên  mà các thành phần của chúng gần độc lập về phương diện lý thuyết tương quan  ( tương quan yếu)  và có phân phối gần đều. Các dãy số như vậy được gọi là các  dãy giả ngẫu nhiên.

Đề tài được nghiên cứu dựa trên đề cương đã được Trường Đại học Phương Đông thông qua.

Đề tài được viết theo một cấu trúc logic, mạch lạc, dễ hiểu về những vấn đề cơ bản của Dãy giả ngẫu nhiên và đưa ra một hệ thống các ví dụ đa dạng, phong phú, các bài toán ứng dụng, tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành.

Nội dung của đề tài, ngoài phần mở đầu, phần kết luận gồm có hai chương:

  • Chương 1. Trình bày một số khái niệm, tính chất cơ bản của Dãy giả ngẫu nhiên.
  • Chương 2. Trình bày một số ứng dụng của Dãy giả ngẫu nhiên.

TỐI ƯU HÓA VIỆC TRIỂN KHAI CÁC CẢM BIẾN TRONG MẠNG CẢM BIẾN KHÔNG DÂY TRONG ĐỊA HÌNH BA CHIỀU

ThS. Nguyễn Thị Mười Phương

Mã số: T18 - 0100 - 22

 Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Vấn đề triển khai các cảm biến đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Bài toán triển khai các cảm biến thực chất là xác định vị trí của các cảm biến trong môi trường để tối đa vùng phủ sóng của mạng cảm biến không dây. Hầu hết các nghiên cứu đều giải thiết rằng môi trường đủ tốt để có thể triển khai được các cảm biến. Tuy nhiên, có những môi trường triển khai cảm biến khắc nghiệt ví dụ như các khu vực xảy ra thiên tai, hoặc những khu vực chịu tác động nặng nề của hóa chất độc hại,… triển khai cảm biến không thể được thực hiện bằng tay. Trong những môi trường như vậy, phương pháp triển khai các cảm biến bằng cách rải từ máy bay được xem xét sử dụng. Tuy nhiên, khi sử dụng kỹ thuật này chúng ta khó có thể kiểm soát được vị trí của các cảm biến do sự tác động của gió và có thể do sự tồn tại của các chướng ngại vật. Do đó, phạm vi phủ sóng của các cảm biến thường là kém hơn so với yêu cầu đặt ra. Hơn nữa, trong một vài trường hợp, các cảm biến phải được yêu cầu đặt đúng vị trí. Ví dụ như khi chúng ta cần đặt các cảm biến để phát hiện ra vị trí rò rỉ chất độc của một nhà máy, các cảm biến hóa học phải được đặt vào bên trong lối vào của nhà máy. Trong trường hợp này, chúng ta cần phải sử dụng các cảm biến di động để có thể di chuyển vào vị trí chính xác, cung cấp vùng phủ sóng được yêu cầu. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất mô hình cho bài toán triển khai các cảm biến trong không gian ba chiều để đảm bảo phạm vi bao phủ tối đa. Mô hình này khắc phục nhược điểm của mô hình trước đó: thay vì các cảm biến được triển khai mọi nơi trên địa hình, thì nó chỉ được triển khai trong một tập hữu hạn cho trước các vị trí. Chúng tôi cũng chứng minh bài toán này là bài toán NP-khó. Cuối cùng, chúng tôi đề xuất thuật toán di truyền để giải quyết bài toán triển khai cảm biến. Các kết quả thực nghiệm với bộ dữ liệu thực tế trên địa hình ba chiều cho thấy các thuật toán đề xuất cho kết quả tốt.


CÔNG NGHỆ ẢO HÓA VÀ CÔNG NGHỆ MÁY ẢO TRONG
ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY

ThS. Nguyễn Thị Đoan Trang

Mã số: K18-0100-01

Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Với sự phát triển bùng nổ hiện nay của công nghệ thông tin và ứng dụng trong đời sống, điện toán đám mây trở nên có tầm quan trọng thời sự, đề tài “Công nghệ ảo  hóa và công nghệ máy ảo trong điện toán đám mây” sẽ cung cấp cho chúng ta một tiếp cận tổng thể tới các khái niệm cơ bản về điện toán đám mây, các vấn đề về lưu trữ và xử lý dữ liệu, về ảo hóa và công nghệ máy ảo, các dịch vụ, kiến trúc dịch vụ và một số chủ đề nâng cao gợi mở các vấn đề nghiên cứu hiện nay trong lĩnh vực điện toán đám mây.

Nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:

  • Chương 1: Giới thiệu chung về điện toán đám mây
  • Chương 2: Khái quát về công nghệ ảo hóa
  • Chương 3: Máy ảo

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ ỨNG DỤNG CNTT CỦA CÁC TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ

ThS. Trần Thị Hiền

Mã số: K18-0100-02

Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Qua khảo sát thực tế các trường cơ sở giáo dục đào tạo ở Việt Nam, hầu hết các trường đã ứng dụng công nghệ thông tin vào trong việc quản lý. Tuy nhiên ứng dụng công nghệ thông tin vào việc thống kê giờ giảng thì hầu như các trường cán bộ chưa có. Trong các trường quản lý  các lớp được tổ chức bất kỳ thời gian trong năm, số tiết giảng của các lớp khác nhau mặc dù cùng môn….Chính vì sự bất cập này nên việc áp dụng các hệ thống thông tin trong quản lý giảng dạy giảm được các thao tác thủ công, tăng cường tự động hóa, mang lại hiệu quả cho công việc, mỗi hệ thống chỉ áp dụng trong cơ sở đào tạo đó, không áp dụng với cơ sở khác. Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin quản lý công tác giảng dạy và phát triển một số ứng dụng công nghệ thông tin của các Trường Cán bộ quản lý “ là cần thiết và phù hợp với thực tế. Mục đích của đề tài nghiên cứu:

  • Xây dựng phần mềm máy tính tổng hợp khối lượng giờ giảng của giảng viên tự động hóa phục vụ công tác đào tạo, giảng viên, lãnh đạo quản lý nhà trường.
  • Giảng viên có thể xem kế hoạch giảng dạy mọi lúc, mọi nơi, trên nhiều phương tiện khác nhau.
  • Tiện ích phần mềm giúp công tác lãnh đạo, quản lý, giao việc, theo dõi tiến độ giảng dạy, phân công môn dạy của giảng viên thuận lợi.

5G VÀ ĐỀ XUẤT LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI 
ỨNG DỤNG  5G TẠI VIỆT NAM

ThS. Phạm Thị Vân Khánh

Mã số: K18-0100-03

Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Ngày nay, thông tin di động ngày càng phát triển mạnh mẽ qua các thế hệ 2G, 3G, 4G. Số lượng thuê bao di động ngày càng tăng cao, đa dạng về thiết bị kết nối đòi hỏi một thế hệ mạng mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra về số lượng kết nối, lưu lượng dữ liệu cực lớn, và độ trễ cực thấp. 5G là mạng di động thế hệ thứ năm được mong đợi sẽ là nền tảng di động hoàn hảo để kết mọi thiết bị, mọi lúc, mọi nơi.

Một thế giới kết nối không dây thực sự, khi tất cả các thiết bị có thể kết nối với nhau mà không gặp rào cản nào về mặt không gian, thời gian. Với sự bùng nổ của các thiết bị truy nhập mạng, dự kiến sẽ có khoảng 46 tỷ thiết bị có khả năng kết nối mạng vào năm 2021, theo Juniper Research, chúng ta đang thực sự bước vào kỷ nguyên IoT đã đặt ra bài toán về việc tìm kiếm một nền tảng di động mới có thể đáp ứng những nhu cầu trên. Đây cũng là tiền đề cho việc phát triển mạng di động công nghệ 5G.

Với xu thế và định hướng như vậy, việc nghiên cứu 5G là hết sức cần thiết.Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã thực hiện đề tài “5G và đề xuất lộ trình triển khai ứng dụng 5G tại Việt Nam”.


NGHIÊN CỨU, TÌM HIỂU CÁC GIẢI PHÁP BẢO MẬT WEBSERVICE

ThS. Vũ Thị Thương

Mã số: T18-0100-04

Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Web Service đã và đang được triển khai và áp dụng trong nhiều lĩnh vực đời sống như ngân hàng, chứng khoán, trao đổi dữ liệu … và ngày càng trở lên phổ biến. Cùng với sự phát triển của nó là những đòi hỏi về tính an toàn, khả năng bảo mật. Bằng việc sử dụng các kỹ thuật đảm bảo an ninh Web Service sẽ giúp cho người sử dụng Web Service trở nên an tâm hơn.

Sau thời gian nghiên cứu tài liệu, tôi đã hoàn thành xong đề tài “Nghiên cứu, tìm hiểu các giải pháp bảo mật Webservice” để tìm hiểu thực trạng bảo mật Web Service hiện nay, các công nghệ đảm bảo an ninh Web Service như công nghệ bảo mật SSL và bộ thư viện WSE.

NGHIÊN CỨU VỀ SDN (SOFTWARE DEFINED NETWORKING)
VÀ TRIỂN KHAI HỆ THỐNG THỬ NGHIỆM

ThS. Nguyễn Thị Lan Phương

Mã số: K18-0100-05

Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

Ngành Công nghệ thông tin ngày nay đang chuyển mình theo hướng tiếp cận “Định nghĩa bằng phần mềm” (Software-Defined) trong quản lý các Trung tâm dữ liệu (TTDL), giúp khối doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ hơn, linh động hơn, cho phép tận dụng tối ưu các dịch vụ điện toán đám mây tư nhân và đám mây công cộng. Công nghệ Ảo hóa và Trung tâm dữ liệu do phần mềm xác định (Software-defined Data Center – SDDC) đã khẳng định được lợi ích và vai trò của mình trên thị trường Việt Nam. Các thành phần lõi của SDDC bao gồm: Computer Virtualization, Software Defined Networking, Software Defined Storage, Management and Automation Software.

Bài nghiên cứu tập trung tìm hiểu về Mạng điều khiển bằng phần mềm (Software Defined Networking – SDN). Đây là một cách tiếp cận mới trong việc thiết kế, xây dựng và quản lý hệ thống mạng. SDN được chia làm ba phần lớn: Phần ứng dụng (Application Layer). phần điều khiển (Control Layer), phần thiết bị hạ tầng (Infrastructure Layer). Các phần sẽ liên kết với nhau thông qua giao thức hoặc các API.

Mạng điều khiển bằng phần mềm (SDN) cung cấp một kiến trúc mạng có khả năng thay đổi mạng xương sống truyền thống sang một nền tảng có khả năng cung cấp dịch vụ phong phú hơn. SDN tách việc định tuyến và chuyển tiếp các luồng dữ liệu riêng rẽ và chuyển kiểm soát luồng sang thành phần mạng riêng có tên gọi là thiết bị kiểm soát luồng (Flow Controller). Để triển khai SDN, ta có một số giải pháp triển khai như OpenFlow, VMware... VMware NSX là một nền tảng ảo hóa hạ tầng mạng cung cấp mô hình vận hành của máy ảo cho hạ tầng mạng để chuyển đổi hoạt động của Data center và mang lại lợi ích kinh tế. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra mô hình logic mô phỏng hệ thống thực nghiệm SDN bằng phần mềm VMware NSX-T, hướng dẫn các bước cài đặt VMware NSX-T và một số yêu cầu để triển khai hệ thống và phân tích chi tiết kết quả mô phỏng thử nghiệm SDN.

THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN VÀ GIÁM SÁT CHO
TAY MÁY VẬN CHUYỂN SẢN PHẨM

ThS. Ngô Trường Minh

Khoa Điện - Cơ điện tử

            Hệ thống sản xuất tích hợp CIM (Computer Intergrade Manufacturing) là hệ thống sản xuất tiên tiến nhất hiện nay và đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trên thế giới. Việc tạo ra một mô hình có tính tổng quan, kết nối được các mô đun, điều khiển và giám sát hệ thống được có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đào tạo cho sinh viên. Sinh viên sẽ có cái nhìn trực quan, về tổng thể của một dây chuyền sản xuất trong công nghiệp để định hướng được và phát triển hướng nghiên cứu sau này. Đề tài đã thiết kế và xây dựng được Modul N06 trong hệ thống sản xuất tích hợp MINICIM, được điều khiển bằng PLC S7-200 có khả năng hoạt động linh hoạt và có khả năng kết nối truyền thông ổn định với các Modul khác trong dây truyền.


ĐIỀU KHIỂN TỐI ƯU ĐA MỤC TIÊU DAO ĐỘNG CỦA KẾT CẤU SỬ DỤNG ĐẠI SỐ GIA TỬ DỰA TRÊN CÁC THAM SỐ MỜ

Trần Quý Cao1, Bùi Hải Lê2, Bùi Văn Bình3 

1Khoa Điện – Cơ điện tử, ĐHDL Phương Đông

2Viện Cơ khí, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

3Khoa Công nghệ cơ khí, Trường Đại học Điện lực

Trong báo cáo này, bài toán điều khiển tối ưu đa mục tiêu dao động của kết cấu sử dụng Đại số gia tử dựa trên các tham số mờ được trình bày. Đối tượng điều khiển là kết cấu chịu tải gia tốc động đất El Centro. Kết quả nghiên cứu đưa ra bao gồm: đáp ứng chuyển vị, gia tốc tuyệt đối và lực điều khiển theo thời gian của kết cấu với các trường hợp không điều khiển, điều khiển sử dụng Đại số gia tử (HAC) và điều khiển tối ưu sử dụng HAC; tập Pareto thể hiện mức độ trade-off của các mục tiêu.

THIẾT KẾ HỆ THỐNG PHÂN LOẠI SẢN PHẨM CHO
DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT LINH HOẠT MINICIM

ThS. Phạm Hải Yến

Mã số: T18-0400-02

Khoa Điện – Cơ điện tử

Hệ thống phân loại sản phẩm đang ngày càng được sử dụng rông rãi trong công nghiệp, giúp cho các nhà máy, xưởng sản xuất tăng năng suất, giảm lao động phụ thuộc vào con người trong những công việc đơn giản có tính lặp lại. Với trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, tác giả đã sử dụng kỹ thuật phân loại dựa trên lý thuyết về khí nén [1], truyền động điện [2] để lựa chọn thiết bị cho mô hình và xử lí ảnh [3] để xây dựng thuật toán điều khiển, đồng thời sử dụng vi điều khiển [4] để xử lí thông tin đầu vào chocảm biến màu sắc và bộ điều khiển khả trình PLC [5] để điều khiển hoạt động của toàn hệ thống [6]. Kết quả thu được là hệ thống hoạt động tốt, ổn định, tỉ lệ phân loại đạt 95%, có khả năng thống kê năng suất và số lượng sản phẩm đã phân loại trong quy mô nhỏ. Có thể sử dụng ghép nối cùng các modul khác tạo thành hệ thống sản xuất linh hoạt và tích hợp MINICIM để khép kín hoạt động từ cấp phôi, gia công, chế tạo sản phẩm cho đến nhập và xuất kho chứa.


NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN VÀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH LÊN MEN THU NHẬN POLYSACCHARIDE, CORDYCEPIC ACID TỪ CHỦNG NẤM CÔN TRÙNG CORDYCEPS SP

ThS. Phạm Thùy Dương

Mã số: T19-0300-06

Khoa Công nghệ sinh học và Môi trường

Polysaccharide và cordycepic acid được tách từ chủng nấm côn trùng cordyceps sp là những hợp chất sinh học có hiệu lực cao được dùng để làm thực phẩm chức năng hoặc làm thuốc phòng và chữa bệnh. .

Chủng Cordyceps sp. H3 có khả năng phát triển nhanh, tốt trên một số môi trường, với lượng hợp chất polysaccharide, cordycepic acid  sinh tổng hợp cao. Môi trường lên men thích hợp Chủng Cordyceps sp. H3 là môi trường CB1 với nồng độ các chất (g/l): glucose ở nồng độ 30 – 40;  nguồn nitơ thích hợp là peptone và cao nấm men lượng 30 – 50g/l với tỷ lệ  3:1; KH2PO4 3,0 và MgSO4 3,0. Điều kiện thích hợp cho cho lên men bao gồm: pH 5,5 – 6; điều kiện nhiệt thích hợp là 25°C, thể tích dịch lên men là 40ml/250ml và thời điểm thu hồi polysaccharide và cordycepic acid tốt nhất là sau 11 ngày sau nuôi cấy.

NGHIÊN CỨU VÀ KHẢO SÁT KHẢ NĂNG XỬ LÝ COD TRONG NƯỚC THẢI NHIỄM MẶN CỦA CHỦNG VI SINH VẬT HALANAEROBIUM LACUSROSEI.

ThS. Tô Thị Đức Hạnh

Mã số:  T19-0300-07

Khoa Công nghệ sinh học và Môi trường

Nước thải nhiễm mặn là một đối tượng khá đa dạng và phức tạp, nhưng có đặc điểm chung là có nồng độ muối cao, đòi hỏi những công nghệ xử lý đặc biệt, phù hợp với đối tượng này. Trên thế giới trong những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về chủ đề này, tập trung chủ yếu vào các nội dung như sử dụng các vi khuẩn chịu mặn và ưa mặn, với các kỹ thuật hiếu khí kết hợp với màng lọc, ở quy mô phòng thí nghiệm. Tuy nhiên kỹ thuật kỵ khí và nghiên cứu quy mô pilot là những vấn đề còn ít được đề cập. Riêng ở Việt Nam, trong khi các đối tượng nghiên cứu khá rõ, và yêu cầu rất cấp bách, những nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ xử lý nước thải nhiễm mặn được thực hiện trong những năm gần đây vẫn còn khá ít ỏi.

Trong môi trường nước, có những loài vi sinh vật cần muối ăn để tăng trưởng được gọi là các VSV Halanaerobium lacusrosei. Nồng độ muối nội bào của các VSV ưa muối và chịu muối thường thấp và chúng duy trì một cân bằng thẩm thấu giữa dịch bào (cytoplasm) của chúng với môi trường bên ngoài bằng cách tích lũy ở hàm lượng cao các chất tan thẩm thấu hữu cơ khác nhau.

Sử dụng VSV Halanaerobium lacusrosei để xử lý nước thải nhiễm mặn ở điều kiện tối ưu PH 6-7 tại nhiệt độ 30-35oC với nồng độ muối tối ưu cho sự phát triển của VSV là 5-6mg/L đã cho kết quả tốt, hiệu quả xử lý COD lên đến hơn 70%.

ƯƠM TẠO, HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG LÚA CHỊU MẶN THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

TS. Phùng Tôn Quyền

Khoa Công nghệ sinh học và Môi trường

Năm 2018 , Trung tâm sáng tạo ứng phó BBĐKH Việt Nam (VCIC), thuộc Bộ Khoa học và công nghệ cùng với tổ chức ngân hàng thế giới World Band và 1 số tổ chức phi chính phủ như Vương quốc Anh, Hà Lan, Hàn Quốc .... đã tổ chức cuộc thi: "Chứng minh ý tưởng sáng tạo ứng phó BBĐKH Việt Nam lần thứ 2" viết tắt là POC2;

Hơn 1000 cá nhân và tổ chức đăng ký tham dự, qua các vòng loại, ngày 20/01/2018 đã đạt giải thưởng trong số 17 tổ chức cá nhân trong toàn quốc, trị giá 750 triệu vnđ dành cho việc thực hiện phát triển sản phẩm ra thị trường.

Giải thưởng được Phó thủ tướng Vũ Đức Đam trao tặng, cấp bằng strat up Doanh nghiệp sáng tạo ứng phó BĐKH Việt Nam với dự án "Ươm tạo, hoàn thiện công nghệ và biện pháp kỹ thuật sản xuất giống lúa chịu mặn thích ứng với biến đổi khí hậu". Tháng 05/2019 đã được trao Bằng tốt nghiệp của Dự án./.

Dự án đã thực hiện Đề tài : "Đánh giá sự có mặt của  gen Saltol trong dòng/giống lúa  chịu mặn CNC15 bằng chỉ thị phân tử và thanh lọc mặn nhân tạo”.


KHẢO NGHIỆM TÁC GIẢ GIỐNG LẠC ĐM1 NĂM 2014-2015
TẠI BẮC GIANG

TS. Phùng Tôn Quyền

Khoa Công nghệ sinh học và Môi trường

Khoa Công nghệ sinh học và Môi trường, Trường Đại học Phương Đông phối hợp thực hiện đề tài nhánh cấp nhà nước "Nghiên cứu chọn tạo giống lạc kháng bệnh đốm muộn bằng chỉ thị phân tử" của Viện di truyền nông nghiệp, theo Hợp đồng số 72/HĐ-NCKH , ngày 20/01/2015.

- Nhiệm vụ thực hiện đề tài: "Khảo nghiệm tác giả giống lạc ĐM1 , năm 2014-2015 tại Bắc Giang"

- Chủ nhiệm đề tài nhánh: TS. Phùng Tôn Quyền, trưởng ngành CNSH, Trường Đại học Phương Đông.

PHÂN LẬP VÀ BIỂU HIỆN ĐOẠN GEN MÃ HÓA POLYPEPTIT GIÀU TÍNH KHÁNG NGUYÊN TRÊN PROTEIN VỎ P10 CỦA VIRUS GÂY
BỆNH LÚA LÙN SỌC ĐEN

Đỗ Thị Hạnh1, Phạm Thanh Tâm2, Phạm Xuân Hội2*

1Đại học Phương Đông

2Viện Di truyền Nông nghiệp

Virus gây bệnh lúa lùn sọc đen (Southern rice black-streaked dwarf virus-SRBSDV) là một virus mới; thuộc Fijivirus, họ Reovidae; gây dịch bệnh nghiêm trọng trên lúa với  diện tích hàng chục triệu hecta tại các vùng trồng lúa ở phía Nam Trung Quốc và miền Bắc,Trung Việt Nam vào năm 2009-2010. Để tạo ra  kháng thể đặc hiệu SRBSDV phục vụ chẩn đoán bằng kỹ thuật ELISA, đoạn gen mã hóa polypeptit giàu tính kháng nguyên P10.1 trên phân đoạn S10 của virus SRBSDV đã được phân lập và biểu hiện trong vi khuẩn E. coli. Đoạn gen P10.1 có kích thước 525 bp được nhân dòng vào vector pGEM®-T, sau đó ghép nối vào vùng biểu hiện trên vector pET28a và biến nạp vào tế bào vi khuẩn E. coli  chủng Rossetta để nuôi cấy biểu hiện polypeptit tái tổ hợp. Polypeptit dung hợp có gắn nhãn His được biểu hiện ở điều kiện nuôi cấy tế bào 37°C trong thời gian 16 h, với nồng độ chất cảm ứng IPTG 1,0 mM. Sử dụng cột sắc ký ái lực Ni-NTA, một polypeptit tái tổ hợp có kích thước khoảng 35 kDa gồm polypeptit P10.1 và hai đoạn polypeptit ở hai đầu 5’ và 3’ của vector pET28a đã được tinh sạch từ dịch chiết tế bào tổng số. Polypeptit tái tổ hợp tinh sạch sẽ được sử dụng làm nguồn vật liệu cho nghiên cứu tạo kháng thể đặc hiệu virus SRBSDV.

NGHIÊN CỨU BIỂU HIỆN GEN CRY2A DIỆT ẤU TRÙNG RUỒI NHÀ
USCA DOMESTICA CỦA CHỦNG BACILLUS THURINGIENSIS  SEROVAR KURSTAKI MSS8.4

ThS. Phạm Thùy Dương

Khoa Công nghệ sinh học và Môi trường

            Các độc tố Cry2A do gen cry2A mã hóa là đặc biệt quan trọng vì chúng có hoạt tính diệt nhiều loại côn trùng khác nhau bao gồm: côn trùng bộ Cánh vảy và côn trùng bộ Hai cánh. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm biểu hiện protein Cry2A tái tổ hợp trong E. coli, là cơ sở để nghiên cứu tạo ra chế phẩm sinh học diệt côn trùng bộ hai cánhtừ vi khuẩn Bacillus thuringiensis. B. thuringiensis serovar kurstaki MSS8.4 là chủng được phân lập từ đất thuộc huyện Sóc Sơn – TP Hà Nội. Chủng MSS8.4 có khả năng sinh tổng hợp đồng thời 2 loại tinh thể hình lưỡng tháp và hình khối lập phương, có khả năng diệt ấu trùng thuộc bộ Cánh vẩy và bộ Hai cánh. Đoạn gen mã hóa cho protein Cry2A có kích thước khoảng 1,9 kb được khuếch đại bởi cặp mồi đặc hiệu. Trình tự gen cry2A của chủng MSS8.4 được đăng ký trên ngân hàng gen quốc tế với mã số: KM588296 có độ tương đồng 99% và có 6 vị trí sai khác so với trình tự gen cry2A trên ngân hàng gen. Các vị trí đó bao gồm: 305 (G-A), 500 (G-A), 783 (T-G), 1054 (T-G), 1303 (G-A), 1575 (C-T). Tuy nhiên, trình tự amino acid của protein cry2A suy diễn có độ tương đồng 99% và chỉ có 5 vị trí sai khác (102 (S-N), 167 (R-Q), 261 (F-L), 352 (W-G), 435 (D-N)), đột biến nucleotide  ở vị trí 1575 (C-T) không làm thay thế amino acid. Tiếp đó, trình tự gen này đã được đưa vào vector pET-22b(+) và biểu hiện trong tế bào E. coli  BL21 (DE3) ở dạng dung hợp với đoạn pelB ở đầu N và đuôi ái lực (His)6 ở đầu C. Các kết quả điện di protein SDS-PAGE và Western blot cho thấy protein tái tổ hợp Cry2A đã được tạo ra thành công với hiệu suất lớn trong tế bào E. coli. Kết quả thử nghiệm với ruồi nhà M. domestica cho thấy rCry2A có hoạt tính cao với côn trùng thử nghiệm (LC50 = 264,7µg).


PHẦN 2. KIẾN TRÚC VÀ XÂY DỰNG                                                        

NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT ĐÔ THỊ XANH( GREEN CITY) ÁP DỤNG VÀO QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

ThS. Lê Minh Nguyệt

Mã số: T18-0200-11

Khoa Kiến trúc - Công trình

“Đô thị xanh” là một chiến lược phát triển bền vững trong quá trình đô thị hoá toàn cầu hiện nay. Thực tế cho thấy việc xây dựng mô hình “đô thị xanh” là xu hướng tất yếu trên thế giới nhằm tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu đảm bảo  thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhiều quốc gia đã tiến hành nghiên cứu, triển khai quy hoạch và xây dựng mô hình các đô thị, các khu đô thị mới và cải tạo các đô thị cũ theo hướng đô thị xanh, đô thị sinh thái.

Các trường đại học đào tạo chuyên ngành về quy hoạch xây dựng tại Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu thế chung của xã hội nêu trên. Trong khi tài liệu, giáo trình giảng dạy trong các trường đại học còn nhiều lạc hậu, không kịp cập nhật với nhu cầu xã hội.

Vì vậy, đề tài nghiên cứu về “đô thị xanh” với công tác quy hoạch xây dựng tại Việt Nam là cần thiết và cấp bách trong nội dung giảng dạy chuyên ngành trong hệ thống đại học tại Việt Nam hiện nay.

KHAI THÁC, PHÁT HUY SỰ THÔNG THÁI BẢN ĐỊA CỦA KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH NHÀ Ở QUY MÔ NHỎ VÙNG BẮC BỘ

TS.KTS. Nguyễn Quốc Tuân

Khoa Kiến trúc - Công trình

Thế kỷ XX với những biến động lớn xuất hiện bởi sự phát triển của xã hội công nghiệp, quá trình quốc tế hóa, một thế kỷ với những ước mơ “con người toàn cầu” không biên giới. Các đô thị lớn trên thế giới đều xuất hiện những mô hình kiến trúc đơn điệu và lặp đi lặp lại ở khắp mọi nơi: Các tòa nhà chung cư, các tòa nhà văn phòng, các khu nhà ở… Bối cảnh này đặt cho các kiến trúc sư, các nhà phát triển đô thị, các nhà quản lý những câu hỏi lớn: Làm thế nào để có một kiến trúc tốt nhất cho con người? Làm thế nào để tạo ra những không gian để giúp cho con người có cuộc sống hài hòa nhất với thiên nhiên, với môi trường xung quanh và với thế giới của họ?

Trong lĩnh vực kiến trúc xây dựng, toàn cầu hóa đã làm nhân bản những kiến trúc có “nhận dạng” giống nhau, những thành phố có nội dung và hình thức mô phỏng nhau. Những tiếp biến văn hóa thông qua sao chép kiến trúc vì thế đã dần trở nên tiêu cực, trở thành một vấn nạn toàn cầu của sự đánh mất bản sắc - đặc biệt là tại châu Á, nơi được cho là “đi sau” và hưởng các thành quả về công nghệ từ các cuộc đại phát triển công nghiệp của Phương Tây.

Kinh nghiệm bản địa vốn dĩ là những giá trị rất bền vững và đậm đà căn tính, nhất là trong lĩnh vực kiến trúc. Bảo lưu, học hỏi và nhân rộng kiến trúc bản địa có thể trở thành một cứu cánh cho các quốc gia châu Á trong quá trình chống lại các tác dụng ngược của quá trình đô thị hóa mà hiện tượng đánh mất bản sắc, đồng nhất hóa phong cách kiến trúc là một trong những hậu quả dễ nhận thấy. Thực tế đang chứng minh rằng, sự liên kết giữa tư duy bản địa và định hướng phát triển bền vững là hướng đi đúng đắn và phù hợp nhất.

Nhà ở nhỏ là thể loại công trình có ảnh hưởng thiết thực, hàng ngày, trực tiếp tới cuộc sống của mỗi cá nhân, do đó, mọi giải pháp ưu hay nhược đều sẽ có những tác động không nhỏ tới con người, và từ đó, tác động tới xã hội bởi con người sẽ chuyển tải những cảm xúc tri giác và thể xác từ không gian ở ra môi trường bên ngoài. Nhà ở nhỏ là loại công trình dễ áp dụng các kinh nghiệm bản địa trong thiết kế, xây dựng và duy trì. Khác với các công trình lớn đòi hỏi phải áp dụng công nghệ theo tính dây chuyền, đồng bộ, nhà ở nhỏ cho phép áp dụng đơn lẻ, tùy biến, thêm vào theo thời gian xây dựng, sử dụng. Khai thác, chọn lọc áp dụng kinh nghiệm bản địa trong kiến trúc, xây dựng nhà ở nhỏ luôn là hướng đi cần được khuyến khích.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, cùng với những giải pháp mới, thì việc khai thác, phát huy “sự thông thái bản địa” là hướng đi nhiều triển vọng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kiến trúc bền vững. Kiến tạo nên những không gian sống hài hòa, nhân văn, và thân thiện với môi trường xung quanh là trách nhiệm của các kiến trúc sư, với sự góp sức của cộng đồng. Trong quá trình kiến tạo này, việc khai thác và phát huy các kinh nghiệm bản địa là hướng đi đúng đắn, cần được nghiên cứu bài bản và kỹ lưỡng.


MÔ PHỎNG VÀ TÍNH TOÁN HỢP LÝ HỐ ĐÀO SÂU SỬ DỤNG TƯỜNG VÂY VÀ HỆ VĂNG CHỐNG

TS. Lê Xuân Tùng

Mã số: T18-0200-12

Khoa Kiến trúc - Công trình

            Vấn đề mô phỏng tính toán hố đào sâu còn nhiều vấn đề tiếp tục được phát hiện để kiểm soát sự cố, tiết kiệm vật tư. Trong bài báo này, nhóm tác giả đã tìm giải pháp mô phỏng kết cấu và xác định tải trọng để hiện thực ứng xử không gian của toàn hệ kết cấu. Kết quả phát hiện được hiệu ứng góc của hố đào, các thành phần nội lực trong tường vây và hệ văng chống mà giúp cho việc thiết kế kết cấu, vật liệu được chính xác, kiểm soát an toàn trong thi công.


PHẦN 3. KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ                                                               

ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐHDL PHƯƠNG

Trịnh Vũ Đạt, Đỗ Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Minh,
Phan Văn Mạnh, Hoàng Đức Vinh, Vũ Thị Minh Hiền

Mã số: T19-1300-01

Đại học Phương Đông

Trong nhiều năm trở lại đây, Trường Đại học dân lập (ĐHDL) Phương Đông bên cạnh những kết quả và hiệu quả trong hoặt động khá tốt như: Đều đặn hàng năm cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, góp phần thúc ổn định an toàn - trật tự cho địa phương, xã hội; Chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần của người cán bộ, giảng viên; Là địa chỉ tin cậy về đào tạo đại học trong và ngoài nước... Nhà trường còn gặp rất nhiều khó khăn và thách thức về: Cơ sở vật chất cần hoàn thiện nhất là các phòng thí nghiệm, thực hành chất lượng quốc tế; Hợp tác nghiên cứu trong và ngoài nước; Chương trình, giáo trình tiên tiến tiếp cận khu vực và các quốc gia phát triển ... đặc biệt là đội ngũ cán bộ, giảng viên chất lượng cao, những người quyết dịnh cho sự ổn định và phát triển của Nhà trường.

Đã từ lâu lãnh đạo Trường  đã thực hiện phương châm: một mặt, giữ những người có năng lực công tác, nhiệt tình cùng với tập thể xây dựng Nhà trường. Mặt khác, cố gắng thu hút được nhiều người có tài, có đức hợp sức cùng với đội ngũ đang có, phát triển Nhà trường lớn, mạnh sánh bước cùng các trường bạn trong giai đoạn vừa cạnh tranh vừa phát triển như hiện nay. Nhận thức được sự hài lòng của từng cán bộ, giảng viên trường ĐHDL Phương Đông sẽ tạo động lực nâng cao hiệu quả, giá trị trong các hoạt động nghiên cứu, đào tạo... của chính họ và từ đó, tạo nên Thương hiệu của Nhà trường. Lãnh đạo Trường Đại học Dân lập Phương Đông đã có nhiều biện pháp cụ thể để duy trì sự hài lòng của người lao động như: Giữ thời gian tăng Lương ổn định (3 năm); Tăng tiền thưởng nhân các ngày lễ, tết...; Tổ chức nhiều đợt nghỉ mát, tham quan... đầu xuân, hè; Tháng lương thứ 14, 15...; Cải thiện điều kiện làm việc (máy tính, điều hòa, tiền ăn trưa, các công cụ lao động và vật tư tiêu hao khác)…cho cán bộ, giảng viên.

Thực tế cho thấy:  Đội ngũ nhân viên Nhà trường chưa thực sự yên tâm công tác; Ý thức tổ chức kỷ luật cũng như ý thức phấn đấu vươn lên còn  hạn chế; Những nhân viên có năng lực, trình độ tìm nơi công tác mới hoặc làm một lúc nhiều nơi, nhiều người tự cho phép mình không đến cơ quan, hay chỉ đến khi cần có mặt để họp, lĩnh lương…; Tình trạng thiếu tinh thần trách nhiệm, lãn công, đi muộn về sớm...  xảy ra thường xuyên liên tục. Có rất nhiều lý do để giải thích cho các hành vi đã nêu, nhưng có lẽ nguyên nhân chính là do nhân viên cảm thấy chưa hài lòng với công việc tại trường Phương Đông.

Xuất phát từ mong muốn giữ cho Nhà trường ổn định và phát triển, Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn và thực hiện đề tài: “Đánh giá sự hài lòng trong công việc của cán bộ, giảng viên Trường Đại học dân lập Phương Đông” để thực hiện. Từ kết quả nghiên cứu mà đề xuất ra một số giải pháp và kiến nghị với lãnh đạo Trường nhằm góp phần thiết thực cho việc hoạch định, quản lý nguồn nhân lực. Mang lại nhiều hơn lợi ích cho người lao động, tăng sự hài lòng trong công việc của cán bộ, giảng viên Trường ĐHDL Phương Đông.

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

                                                                              TS. Phạm Xuân Tiến

                                                                              Mã số: T18 - 0500 - 014

Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh      

Trường Đại học Phương Đông là một trong những trường đại học ngoài công lập đầu tiên trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Trải qua gần 25 năm xây dựng và phát triển, Đại học Phương Đông bằng nội lực của chính mình, tự lập, vươn lên và đã khẳng định được vị trí của mình là một trường Đại học có quy mô trung bình, đào tạo đa ngành, đa hệ, đa lĩnh vực, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, CNH – HĐH đất nước.

Từ việc nghiên cứu lý thuyết về chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ đào tạo cũng như việc tìm hiểu các nghiên cứu trước đó. Tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực trạng chất lượng dịch vụ đào tạo tại trường Đại học Phương Đông thông qua các cán bộ giảng viên và cảm nhận của sinh viên đang học tại trường. Với việc tuân thủ chặt chẽ quy trình nghiên cứu, tác giả đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề tài. Kết quả đạt được của nghiên cứu cho thấy cái nhìn tổng quát về chất lượng dịch vụ đào tạo của nhà trường, xác định được các yếu tố chủ yếu có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo của nhà trường, thông qua đó đưa ra một số chính sách đề nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo của nhà trường trong thời gian tới.


ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
                                                                       

                                                                         ThS. Phan Bá Thịnh

Mã số: K18 - 0500 - 01

Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh

Để có được thành công thực sự, bên cạnh không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo để tạo ra sản phẩm tốt còn phải biết cách tuyên truyền, cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời hiệu quả để tạo lập lòng tin lâu dài ở người học, gia đình, doanh nghiệp và xã hội. Các trường đại học ở Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn nữa cho việc phát triển quan hệ công chúng nhằm tạo ra “sức đề kháng” trước sự xâm nhập của các trường đại học nước ngoài. Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động quan hệ công chúng ở Việt Nam vẫn trong giai đoạn hình thành, phát triển, mới chỉ tập trung ở một số mảng riêng lẻ như tổ chức sự kiện, quan hệ báo chí. Trong lĩnh vực giáo dục, một môi trường vốn thực sự rất cần hoạt động quan hệ công chúng nhưng nó vẫn chưa được khai thác một cách triệt để. Nhằm phát triển thương hiệu, tạo lập một vị trí ổn định trên môi trường giáo dục đại học, thì rất cần một công cụ hữu hiệu mà một số trường đại học đã và đang sử dụng đó là quan hệ công chúng (PR).

PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở BẢN HỤM, SƠN LA DỰA TRÊN GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI                                                                      

                                                                         ThS. Phạm Thị Hường

Mã số: K18 – 0500 - 04

Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh

Phát triển bền vững trong du lịch theo hướng phát triển du lịch cộng đồng đang là một xu hướng của các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vì vậy, một trong những phương thức tiếp cận quan trọng cho phát triển du lịch bền vững là đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng đồng, trong đó các giá trị văn hóa và vai trò của cộng đồng được phát huy đầy đủ nhất. Điều này sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho cộng đồng và cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa.       

Vì vậy, trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, tác giả đã áp dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điền dã và phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu các giá trị văn hóa Thái có thể phục vụ phát triển du lịch cộng đồng, từ đó có những phân tích, đánh giá và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng ở bản Hụm, góp phần xóa đói giảm nghèo, đa dạng hóa sinh kế địa phương và phát triển bền vững.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CHUYÊN NGÀNH
HƯỚNG DẪN DU LỊCH CỦA NGÀNH VIỆT NAM HỌC 
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP PHƯƠNG ĐÔNG

ThS. Ngô Quang Duy

Mã số: K18 - 0500 - 05

Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh

Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá chất lượng đào tạo hướng dẫn du lịch tại ngành Việt Nam học bằng việc phân tích ý kiến phản hồi của sinh viên qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn theo 25 biến. Nghiên cứu sử dụng  thang đo Likert 5 mức từ 1 đến 5 tương ứng với ý kiến rất không hài lòng đến rất hài lòng. Ngoài ra, để đánh giá một cách khách quan về chất lượng đào tạo sinh viên chuyên ngành Hướng dẫn du lịch, chúng tôi cũng tham vấn ý kiến của các nhà tuyển dụng, những đơn vị kinh doanh du lịch trực tiếp sử dụng sản phẩm sinh viên tốt nghiệp của ngành bằng cách phỏng vấn sâu các đối tượng là giám đốc doanh nghiệp, trưởng phòng nhân sự, trưởng phòng quản lý hướng dẫn viên. Để thực hiện nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp: (i)  Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp được tập hợp từ các nguồn, sách, tạp chí, các báo cáo, kỷ yếu hội nghị chủ yếu liên quan tới hướng nghiên cứu của đề tài là nâng cao chất lượng đào tạo; (ii) Điều tra xã hội học thông qua  phỏng vấn sâu đối với người quản lý của các doanh nghiệp sử dụng sinh viên và điều tra bằng bảng hỏi được phát cho sinh viên ngành VNH các khóa 513,514,515 qua 02 hình thức là trực tiếp và gửi bảng hỏi qua mạng internet; (iii)  Phân tích và xử lý dữ liệu thực hiện bằng phương pháp định tính và phương pháp định lượng.

ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH KHẢO SÁT THỰC TẾ TIẾP CẬN CHUẨN ĐẦU RA TRONG ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN TRỊ DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ LỮ HÀNH

ThS. Mai Chánh Cường

Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh

Chương trình khảo sát thực tế (học phần Thực hành chuyên ngành) được đưa vào khá sớm trong chương trình đào tạo cử nhân ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành để định hướng rõ ràng cho sinh viên chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành có một cái nhìn cụ thể về con đường trở thành nhân lực trong lĩnh vực khách sạn, lữ hành và hướng dẫn du lịch. Thông qua chương trình khảo sát, sinh viên tiếp thu tốt hơn các kiến thức lý luận của các môn học chuyên ngành ở trường, nhờ đó nắm được phương pháp khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của cơ sở thực tế.

Kinh nghiệm đào tạo cử nhân ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành tại trường Đại học Phương Đông trong suốt 25 năm qua từ năm 1994 đến nay, việc nghiên cứu và đổi mới chương trình khảo sát thực tế tiếp cận chuẩn đầu ra trong tình hình hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện sinh viên.

Nội dung báo cáo khoa học sẽ trình bày vấn đề cơ bản sau:

  • Tổng quan chuẩn đầu ra chương trình đào tạo cử nhân Ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành
  • Thực trạng chương trình khảo sát thực tế tiếp cận chuẩn đầu ra cho sinh viên Ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành thời gian qua
  • Một số đề xuất đổi mới chương trình khảo sát thực tế tiếp cận chuẩn đầu ra cho sinh viên Ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

ThS. Đoàn Hữu Cảnh

Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh

Kết quả khảo sát, điều tra 200 cán bộ quản lý ngân hàng các cấp tại 4 ngân hàng thương mại (NHTM) cho thấy, chất lượng đào tạo nhân lực ngành tài chính ngân hàng trong thời gian qua của các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam là khá tốt. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng yêu cầu công việc thực tế là chưa cao, các ngân hàng vẫn phải đào tạo lại với thời gian từ 3 đến 6 tháng mới có thể giao việc chính thức. Theo đánh giá từ người sử dụng lao động là cán bộ quản lý của các NHTM, sinh viên tốt nghiệp quá nặng về kiến thức chuyên môn, lý thuyết nhiều, thiếu cơ bản các nghiệp vụ thực tiễn và các kỹ năng mềm phù hợp với yêu cầu công việc. Điều này đòi hỏi các trường đào tạo ngành tài chính ngân hàng cần có sự thay đổi về chương trình đào tạo bám sát vào nhu cầu công việc thực tế, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tính thực tiễn của giảng viên giảng dạy các môn chuyên ngành và khuyến khích giảng viên thỉnh giảng hiện đang là cán bộ làm nghiệp vụ trực tiếp tại các ngân hàng.


ẢNH HƯỞNG CỦA BLOCKCHAIN LÊN SỰ THAY ĐỔI CỦA LĨNH VỰC TÀI CHÍNH VÀ MỘT SỐ NGÀNH KHÁC TRONG NỀN KINH TẾ

ThS. Đặng Hoàng Tùng

Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh

Mục tiêu của bài báo này là tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nền tảng công nghệ blockchain lên lĩnh vực tài chính thông qua tiền điện tử, và ảnh hưởng lên những ngành khác. Chủ đề của nghiên cứu này không phải chỉ là công nghệ mà còn là sự khai thác khía cạnh thương mại của blockchain. Để hiểu được nền tảng này, điểm xuất phát của nghiên cứu này là sự phân tích cách công nghệ triển khai, sau khi lợi thế cho giao dịch kinh doanh và kinh tế được xác định, và cuối cùng bài báo này giải quyết với sự ảnh hưởng của công nghệ mới lên hoạt động kinh doanh, lên trên toàn bộ hoạt động tài chính. Lý thuyết cơ bản là blockchain đã đạt được sự ảnh hưởng vĩ đại lên bộ phận tài chính, cũng như nó có tiềm năng thay đổi nhanh không chỉ trong lĩnh vực tài chính mà còn thay đổi cách thức chúng ta mua và bán, sự tương tác của chúng ta với chính quyền. Sử dụng dữ liệu sẵn có và tổng hợp kiến thức từ những lĩnh vực công nghệ, kinh tế, tài chính, và chính trị, 4 kịch bản được thiết lập cho công nghệ cơ bản tương lai. Cách tiếp cận theo kịch bản được kết hợp với phân tích xu hướng để chứng minh giả thuyết xuất phát điểm có độ tin cậy cao.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng công nghệ được điều tra có ảnh hưởng sâu sắc đối với khu vực tài chính, đó là giai đoạn đầu tiên của việc thay đổi nhiều ngành, và nhiều khả năng sẽ còn thay đổi nhiều trong từ 5 đến 10 năm tới. Kinh doanh tăng cường khám phá sức mạnh của công nghệ để khai thác lợi thế của cuộc cách mạng công nghệ lần 4.


PHẦN 4. NHÂN VĂN                                                                                    

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHƯƠNG ĐÔNG HIỆN NAY

TS. Kiều Thị Hồng Nhung

Mã số: T19-0800-03

Khoa Lý luận chính trị và Đại cương

Đạo đức xã hội là một bộ phận trọng yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, là phương thức điều chỉnh hành vi đạo đức của mỗi cá nhân trong cộng đồng sao cho phù hợp với yêu cầu của cộng đồng đó. Sự phát triển của đạo đức xã hội là biểu hiện trình độ nhân văn và sự tiến bộ trong nền văn hóa tinh thần của dân tộc và nhân loại. Xu hướng phát triển nhân văn hóa của xã hội hiện đại ngày càng khẳng định, đạo đức xã hội là nhân tố quan trọng và là một phương diện không thể thiếu trong sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của mỗi cá nhân.

Đối với sinh viên, trong quá trình học tập, lao động, hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải hiểu biết các giá trị, các chuẩn mực đạo đức xã hội, từ yêu cầu bên ngoài thành nhu cầu tất yếu bên trong đối với một nhân cách. Sinh viên tiếp thu, cải biến thành những thuộc tính, phẩm chất, những giá trị nhân cách bền vững, biến tri thức đạo đức thành thực tiễn đạo đức.

Ngày nay, sự hình thành, phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam đang chịu những tác động từ nhiều phía: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ đời sống xã hội, hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện cho người sinh viên năng động, linh hoạt, sáng tạo, duy lý hơn trong học tập, nghiên cứu và lao động. Mặt khác, nó đang làm nảy sinh những hiện tượng xói mòn đạo đức, kích thích lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất mà coi thường giá trị tinh thần, đề cao chủ nghĩa cá nhân.

Nội dung báo cáo khoa học sẽ trình bày vấn đề cơ bản sau:

  • Một số cơ sở lý luận về vai trò của đạo đức xã hội trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên
  • Thực trạng khảo sát vai trò của đạo đức xã hội trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên ở trường ĐH Phương Đông hiện nay
  • Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đạo đức xã hội trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên ở ĐH Phương Đông hiện nay

A STUDY ON DEVELOPING SUPPLEMENTARY MATERIAL TO IMPROVE LISTENING SKILL FOR FIRST-YEAR ENGLISH MAJORS AT PHUONG DONG UNIVERSITY

ThS. Nguyễn Thị Thanh Huyền

Mã số: T19-0600-04

Khoa Ngoại ngữ

Trong bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và viết, kỹ năng nghe được sinh viên năm thứ nhất coi là kỹ năng khó nhất do rất nhiều lý do chủ quan và khách quan ( như vốn từ vựng nghèo nàn, kỹ năng nghe non yếu, tốc độ nói quá nhanh và âm giọng lạ..) Không ít sinh viên thấy ‘sợ’ môn nghe vì theo họ càng nghe càng thầy rối thấy khó và cố gắng mấy cũng gần như không tiến bộ. Tuy nhiên nghe là kỹ năng ‘đầu vào’ đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp vì phải nghe được hiểu được  thông tin từ  người đối thoại người học mới đáp  lại được một cách thích hợp từ đó đảm bảo diễn ngôn được mạch lạc. Đồng thời nghe cũng là kỹ năng nền tảng để sinh viên có thể học và thực hành kỹ năng dịch nói sau này. Vậy nên vấn đề cấp thiết đặt ra với toàn bộ giảng viên ngành tiếng Anh  là làm thế nào để thúc đẩy sinh viên luyện nghe nhiều hơn nữa nhằm từng bước cải thiện và nâng cao kỹ năng nghe hiểu cho các em. Nghiên cứu này vì vậy tập trung vào việc phát triển tài liệu bổ trợ cho giáo trình nghe 2 như một giải pháp hữu hiệu nhằm cung cấp thêm tài liệu luyện tập kỹ năng nghe cho các em ngoài giờ học trên lớp để các em phát huy tinh thần tự học và từ đó dần dần tự cải thiện và nâng cao kỹ năng này. Sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu chính  là sách bổ trợ nghe cho sinh viên năm thứ nhất ngành ngôn ngữ Anh- Đại Học Phương Đông với kỳ vọng sản phẩm sẽ như một giải pháp tích cực giúp các em vượt qua nỗi ‘sợ’ và ‘nản’ với kỹ năng này và tìm thấy tự tin cũng như cảm hứng trong học kỹ năng nghe nói riêng cũng như ngôn ngữ Anh nói chung.


ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG HÁN TỔNG HỢP TRÌNH ĐỘ SƠ CẤP CHO SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT CHUYÊN NGÀNH TIẾNG TRUNG ĐẠI HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

汉语综合课教学与多媒体运用 (针对东方大学一年级学生)

ThS. Nguyễn Thị Minh Thu

Mã số: T19-0600-05

Khoa Ngoại ngữ

            Trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, công nghệ thông tin đã căn bản thay đổi thế giới. Thực tế cho thấy, công nghệ thông tin đang được ứng dụng ở khắp mọi nơi, trong tất cả các ngành, lĩnh vực, đời sống của con người. Dưới ảnh hưởng tích cực của công nghệ thông  tin cùng với những tiện ích mà nó mang  lại,môi trường dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Hán nói riêng cũng được thay đổi và cải tiến. Nó đã và đang là công cụ trợ giúp rất tích cực cho người dạy và người học, góp phần nâng cao chất lượng dạy   học.Trong chương trình giảng dạy chuyên ngành tiếng Hán cho sinh viên năm thứ nhất trình độ sơ cấp, môn tiếng Hán tổng hợp là một môn học bao gồm các kiến thức khác nhau như phát âm, chữ Hán, ngữ pháp, đọc hiểu và văn hóa Trung Quốc. Môn học này có vai trò xây dựng nền móng, kiến thức bản lề cho sinh viên trình độ sơ cấp, giúp sinh viên có thể sử dụng linh hoạt tiếng Hán trong các giờ học kĩ năng nghe, nói, đọc, viết khác. Theo kinh nghiệm trong một số năm giảng dạy, người viết nhận thấy nếu trong khi dạy và học Tiếng Hán giáo viên và học sinh chỉ dung Tiếng Việt hoặc dung quá nhiều Tiếng Việt và chỉ dạy chay (không có các thiết bị hỗ trợ giảng dạy) thì giáo viên và học sinh ít có cơ hội để luyện nghe, phát âm Tiếng Hán, ghi nhớ từ vựng, thực hành ngữ pháp,  giáo viên khó thực hiện được ý đồ của mình, cả thầy và trò đều lúng túng, thiếu tự tin khi tham gia các hoạt động dạy và học, không tạo ra được “môi trường học tiếng hiệu quả” ở trên lớp.  Hơn nữa bài học trở nên buồn tẻ, học sinh không hào hứng tham gia. Điều này có nghĩa là mục tiêu của việc dạy và học nói chung, đối với môn Tiếng Hán nói riêng sẽ bị hạn chế không nhỏ. Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến những lợi ích mà công nghệ thông tin mang lại trong việc giảng dạy ngoại ngữ, từ đó đánh giá thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tiếng Hán tại ngành tiếng Trung, khoa Ngoại ngữ, ĐH PhươngĐông. Trên cơ sở đó, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những đề xuất thiết kế bài giảng ứng dụng công nghệ thông tin để tạo động lực, tăng cường hứng thú cho giáo viên và sinh viên trong giờ học ngoại ngữ, nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Hán nói chung và môn học tổng hợp sơ cấp nói riêng.


HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP CHO TIẾNG ANH GE1 VÀ GE2

Bạch Thị Hoàng Yến

Khoa Ngoại ngữ

Trong giảng dạy ngôn ngữ giao tiếp (CLT), hoạt động giao tiếp đóng vai trò then chốt, là một trong những phương pháp để tối ưu hóa hiệu quả của người học. Nghiên cứu được tiến hành tại cả hai khu giảng dạy Trung Kính và Hưng Kí – ĐH Phương Đông.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục đích tập hợp các hoạt động giao tiếp bám sát theo nội dung từng bài học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh cho sinh viên không chuyên tại ĐH Phương Đông. Bên cạnh đó, những hoạt động giao tiếp này còn có thể là cơ sở để giúp giáo viên tăng cường không khí sôi nổi cho lớp học.

Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động giao tiếp, phân loại và đặc trưng của hoạt động giao tiếp, lợi ích của hoạt động giao tiếp và cách thức tối ưu hóa hoạt động giao tiếp. Đó là cơ sở lý thuyết để nhóm thực hiện đề tài thiết kế và đưa ra những hoạt động giao tiếp phù hợp và hiệu quả với chương trình tiếng Anh Ge1 và Ge2 như hoạt động nhập vai (Role-play), hoạt động thảo luận (Discussion), kể chuyện theo tranh (Picture story).v.v.

NHỮNG KHÓ KHĂN CHÍNH TRONG VIỆC HỌC DỊCH ĐUỔI ANH - VIỆT CỦA SINH VIÊN NĂM 4 NGÀNH NGÔN NGỮ ANH
- TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
                                                            

Trần Thị Kiều My

Mã số: K19-0600-01

Khoa Ngoại ngữ

Tiếng Anh ngày càng khẳng định vai trò là công cụ chính trong giao tiếp toàn cầu. Toàn cầu hóa cũng làm gia tăng nhu cầu về các biên phiên dịch có trình độ. Những người làm nghề biên phiên dịch cũng được coi là chiếc cầu nối trong việc trao đổi thông tin trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến chính trị, công nghệ và kinh doanh .v.v. Nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, nhiều trường ĐH đã tăng cường và chú trọng hơn nữa vào những khóa đào tạo biên phiên dịch và trường ĐH Phương Đông không nằm ngoài xu hướng này.

Từ lâu, môn Biên dịch hay còn gọi là Dịch nói đã được đưa vào chương trình đào tạo cho sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh. Tuy nhiên, vì trang thiết bị phục vụ cho môn học còn hạn chế nên việc dạy Dịch nói ở trường chủ yếu là dịch đuổi (Consecutive interpretation). Là giáo viên chuyên dạy môn Dịch nói trong nhiều năm, tôi nhận thấy rằng sinh viên của mình gặp rất nhiều khó khăn trong thực hành dịch, đặc biệt là dịch đuổi từ Anh sang Việt. Chính sự đam mê với môn Dịch nói và khao khát muốn đào tạo ra những sinh viên khi ra trường có thể tự tin với nghề dịch, bắt đầu từ những cuộc họp nhỏ đến những hội thảo lớn hơn đã thôi thúc tôi thực hiện nghiên cứu này.

Với nghiên cứu về “Những khó khăn chính trong việc học dịch đuổi Anh sang Việt của sinh viên năm 4 ngành Ngôn ngữ Anh - trường ĐH Phương Đông”, tôi đã tìm ra 5 vấn đề chính sinh viên của mình thường gặp phải. Từ đó tôi có thể đưa ra những giải pháp phù hợp nhất nhằm cải thiện và nâng cao kỹ năng dịch cho sinh viên.



BAN HỢP TÁC ĐÀO TẠO | TRAINING COOPERATION DEPARTMENT
Địa chỉ: Phòng 201, Trường Đại học Phương Đông, số 171 Trung Kính, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: (+84-4) 3-782-8518 (số máy lẻ: 201) hoặc (+84-4) 3-784-1379
Email: htdt@phuongdong.edu.vn | Website: http://htdt.phuongdong.edu.vn/
Thống kê truy cập
Số người trực tuyến: 5
Số người đã truy cập: 1362941